Besty Evans, một chuyên gia giáo dục từ tổ chức HighScope đã nói: “Trẻ con không gây rối, chúng chỉ phạm lỗi” (2002). Nhà tâm lý học Daniel Gartrell (1995) chia sẻ rằng khi trẻ phạm lỗi, người lớn cần khoan dung và thông hiểu để nhìn nhận hành vi của con là sai lầm hơn là gây rối. Vì khi nhìn nhận sự việc là sai lầm, chúng ta sẽ dạy con cách sửa sai, hoàn thiện hơn là trừng phạt nếu cho đó là phá hoại.

Các nghiên cứu cận lâm sàng của Tổ chức HighScope chỉ ra 3 dạng Hệ quả hành vi như sau:

  1. HỆ QUẢ TỰ NHIÊN: như chân ướt chạy trên sàn sẽ té, quăng ném đồ vật sẽ hư không thể chơi tiếp…
  2. HỆ QUẢ TẤT YẾU: làm đổ nước thì phải lấy giẻ lau, không ăn trong giờ ăn thì phải chờ đến bữa ăn tiếp theo…
  3. HỆ QUẢ TRỪNG PHẠT: chân ướt chạy vào nhà sẽ bị phạt, quăng ném đồ vật sẽ bị tịch thu không cho chơi…

Khi xảy ra các sự số thuộc hệ quả tự nhiên, việc của người lớn là quan sát để đảm bảo an toàn đủ cho con trải nghiệm một chút “đau đớn” do hành vi mình gây ra từ đó học cách phòng tránh. Tương tự như Hệ quả tự nhiên, hệ quả tất yếu cũng là những bài học mà trẻ cần trải nghiệm, tuy nhiên, hệ quả tất yếu cần sự can thiệp của Phụ huynh để đảm bảo “bài học trải nghiệm” được diễn ra đúng ý đồ, không bị gián đoạn của các yếu tố nhiễu như sự nuông chiều, can thiệp của người thứ ba. So với hai hệ quả trên thì nghiên cứu cho thấy người lớn có xu hướng sử dụng trừng phạt khi mong muốn ngăn chặn hành vi xấu của trẻ. Tuy nhiên, khi tiếp nhận sự trừng phạt, trí óc non nớt của trẻ con chỉ tập trung vào sự mâu thuẫn “ba/mẹ phạt con, đánh con; con giận ba/mẹ…” hơn là trải nghiệm bài học cần thiết.

Hệ quả trừng phạt Hệ quả tất yếu
  • Tập trung vào mâu thuẫn
  • Mong muốn ngăn chặn hành vi bằng trừng phạt.
  • Tập trung vào kết quả của hành vi
  • Mong muốn giúp trẻ nhận ra hành tốt và hành vi có thể gây hại.

Trên thực tế, một số trẻ mặc dù hiểu được hệ quả tự nhiên nhưng vẫn cố tình lặp lại hành vi. Trong trường hợp này, hệ quả tất yếu có thể được sử dụng như một hình thức yêu cầu con chịu trách nhiệm cho những hậu quả mình gây ra. Ví dụ: một hai lần đầu tiên khi con chạy chân ướt từ nhà tắm ra ngoài và té, ba mẹ nên giải thích hậu quả tự nhiên và giúp con dọn dẹp như một hình thức chia sẻ khi con té đau. Nhưng những lần lặp lại về sau, khi con đã hiểu hậu quả của hành vi thì dù có té đau, con cũng cần tự đứng dậy và còn phải tự mình lau sạch các vết nước trên sàn mà không có sự giúp đỡ của ba mẹ. Nếu hành vi tiếp tục được lặp lại như một hình thức cố tình quấy rối thì các biện pháp cứng rắn hơn mới được xem xét thực hiện.

Nếu ba mẹ ngay lập tức sử dụng hình phạt từ những lần đầu tiên khi con phạm lỗi, con sẽ không cảm nhận được tình yêu thương của ba mẹ, cảm giác bị bỏ rơi và về sau hình thành thói quen lầm lì, tự vượt qua nỗi đau mà không cần sự chia sẻ của các thành viên trong gia đình. Về lâu dài, điều này sẽ tạo nên khoảng cách trong mối quan hệ giữa ba mẹ và con cái, rất khó hàn gắn khi con đã vượt qua tuổi dậy thì. Trong bất kỳ tình huống nào, người lớn cần kiểm soát tốt cảm xúc của bản thân để nhìn nhận một cách khách quan, khoan dung và thấu hiểu mới có thể giúp con trưởng thành một cách vui vẻ, tự tin.